|
Quê Hương Muôn Thuở
(Những câu thơ trong các đoạn văn hoặc trong ngoặc kép đều
được trích từ Thơ Mặc Giang) – Quốc Anh
Bất luận anh ở đâu, chị ở đâu, em và tôi ở đâu, hễ nghe nhắc đến Quê Hương, thì
cảm nghe tâm tư tràn ngập một trời nhung nhớ; hễ nghe bàn về Quê Mẹ, thì niềm tự
hào và tình nhớ thương như đang chắt lọc, lắng đọng bồi vun... Bởi Quê Hương là
nơi ta bi bô tập nói, nơi đầu tiên Mẹ dẫn ta vào phân khoa đại học cuộc đời, nơi
Cha nghiêm hướng cho ta leo lên đỉnh cao thành tựu. Vì vậy, xưa nay, một số bài
về quê hương của thi nhân đều khiến người đọc luôn thấy hấp dẫn trong cảm giác
mới mẻ tinh nguyên. Những câu thơ với chủ đề Việt Nam nguồn cội, quê hương của
ngàn năm oai hùng kiêu sa, cũng được nhà thơ Mặc Giang thể hiện qua những dòng
thơ rất thực, thắm thiết tình nhớ thương, nhắn gởi ý thức trách nhiệm, đồng thời
cũng tạo dựng một lối về thênh thang trên “hành trang lội ngược”. Sức cuốn hút
của dòng thơ về tình tự Quê Hương trong thơ Mặc Giang, thiết nghĩ, là một trong
những đề tài giá trị trong thơ ông. Luận bàn về chúng, cũng như đang nói với
chính mình, như đang thì thầm bên Mẹ Việt Nam, đang lặng yên lắng nghe tiếng
vọng của hồn thiêng sông núi Quê Hương. Mà qua đó, chất thơ, hồn thơ, tứ thơ,
nội dung thơ mang phong cách đặc biệt, mới mẻ của nhà thơ Mặc Giang đã cho chúng
ta có cơ hội biết lắng đọng lòng mình, biết trân qúy Quê Hương - đất nước của
những dãy núi trùng điệp in hình công Cha, của những con sông mang âm hưởng
tiếng hò thân thiết của Mẹ Việt Nam.
Nhờ ý thức sâu xa về nguồn cội Việt Nam, nên trong những bài thơ nói về đất nước
Việt Nam nòi giống Tiên Rồng năm ngàn năm lịch sử, Mặc Giang thường thể hiện một
thơ phong tự hào, phấn kích, nhưng cũng trầm ngâm qua giọng thơ tự tin khẳng
định, hoành tráng.…:
Việt Nam còn đó non sông
Mẹ Âu, cha Lạc, con Rồng, cháu Tiên
(Mặc Giang, non nước Việt Nam)
Rồng và Tiên, một tượng trưng cho tinh hoa tiết liệt, mạnh mẽ như cuồng phong vũ
bảo, hùng hồn nghĩa khí, bất khuất, tràn đầy nhựa sống, là chúa tể ngự trị cả
đại dương cuồn cuộn; một tượng trưng cho sự trong sạch, thanh cao, tâm hồn đôn
hậu, liêm khiết, trong sạch, ngay thẳng, chất trực, không uẩn khúc quanh co, ngự
trị cả dãy Trường Sơn hùng vĩ điệp trùng. Vì ý thức cội nguồn là con cháu Rồng
Tiên là một trong những tư tưởng văn hóa truyền thống về cội nguồn quý hiếm cao
sang nhất trong khởi nguyên dòng giống lịch sử toàn nhân loại, nên Việt Nam quê
hương trong thơ Mặc Giang luôn là những chất liệu ngọt ngào, mênh mang lai láng,
kết quyện đan thanh:
Tổ quốc Việt Nam thật mến yêu
Cầu tre lắt lẻo nhịp cầu kiều
Đò ngang đò dọc non liền nước
Cẩm tú giang sơn thật mỹ miều
Quê hương một dãy kết ba miền
Sông núi muôn đời của Tổ Tiên …
(Mặc Giang, non nước Việt Nam non nước tôi)
Hình bóng và chất liệu quê hương Việt Nam, hậu duệ của Hùng Vương Văn Lang trong
thơ Mặc Giang như là lời tự hào thi thiết của tâm can, đó cũng chính là hình ảnh
của con người với quê mẹ Việt Nam tin yêu, thương nhớ, nhẹ nhàng lâng lâng như
một nhà thơ đã cảm tác:
Tôi lại về quê Mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa, nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta, ngân nga tiếng hát
Bởi quê hương trong lòng thi nhân không những là quê hương của niềm tự hào Rồng
Tiên, mà qua bao biến đổi tang thương, trong chiều dài hun hút của lịch sử bế
bồng năm ngàn năm, vẫn khắc sâu trong hồn sông núi quê hương những lao khổ của
cha ông, nên trong Tôi chỉ là một người nước Việt Nam, thi nhân Mặc Giang viết:
Tôi chỉ là một người nước Việt Nam
Của những nơi đất cày lên sỏi đá
Gạo thóc chua cay, đẫm mồ hôi lá mạ
Những bác nông phu tàn tạ nắng sớm mưa chiều
Nhìn những khổ đau, rách nát, điêu tàn,
Dày xéo, chất chồng trên hình cong chữ “S”
Càng yêu sóng biển rạt rào, yêu phù sa lở bồi, yêu cảnh xanh mơn núi rừng, của
từng buổi cơm canh đạm bạc chan chứa tình quê bao nhiêu, cũng chính là thương
cảnh sống quê nghèo thôn dã bấy nhiêu. Quê hương bao giờ cũng mặn mà tình mẹ,
dạt dào tình cha và đong đầy tình bạn. Người nông phu với con trâu, cái cày
trong nắng sớm mưa chiều, một nắng hai sương luôn là hình ảnh đậm đà, chắt lọc,
thắm thiết tình quê hương, đã từng khiến thi sĩ Mặc Giang ngậm ngùi trầm ngâm,
rồi tuôn chảy những dòng thơ như đang thân thiết sẻ chia nỗi khó nhọc, gạt hộ
giọt mặn trên ruộng đất khô cằn nước mặn đồng chua. Đây là động năng khiến dòng
mực cứ chảy dài trên trang thơ khi tác giả viết về nỗi khổ nhọc của làng quê
Việt Nam. Do vậy, lúc nào cũng cho chúng ta cái cảm giác, thơ của thi nhân Mặc
Giang luôn là những trang thơ nóng hổi, chưa ráo mực, cho dù viết từ tháng trước,
năm trước hay tự hồi nào.
Dù hôm nay hay mai kia mốt nọ, em có làm gì đi nữa, chị có làm gì đi nữa và anh
có làm chi đi nữa, thì trong chúng ta vẫn không bao giờ nhạt phai chất liệu mặn
mà quê hương. Bởi sau những buổi tan trường, dọc đường về nhà, chúng ta đã từng
san sẻ chia chác nhau củ sắn, củ khoai, hoặc trái sim trái mận còn non xèo đắng
chát. Và khi ý thức về nguồn cội Việt Nam, về chất liệu mặn mà quê hương trong
mỗi chúng ta, cũng là lúc chúng ta xác định rõ mối quan hệ thắm thiết giữa con
người Việt Nam. Như trong Quê hương nguồn cội, Mặc Giang nhắc nhủ đàn em:
Em sinh tại quê hương
Tôi sinh vùng đất khách
Dù xa xôi cách biệt
Nhưng là người Việt nam
Em máu đỏ da vàng
Nhìn tôi đâu có khác
Tóc em đen óng mượt
Tóc tôi chẳng lạ gì
Ngăn cách không gian nào có nghĩa gì đâu, không ngăn được tình người Việt nam.
Trong bất kì hoàn cảnh nào, tôi cũng sẽ dễ dàng nhận ra em, không gì có thể làm
thay đổi quan hệ thâm tình giữa mỗi chúng ta. “Dù xa cách dặm trường, tình yêu
thương chỉ một”, bởi trong chúng ta, ai cũng mang giọt máu của Mẹ Âu, linh hồn
của Cha Lạc và bản lĩnh của vua Hùng. Cũng chính vì vậy, nên khi nào thi nhân
cũng thấy tình quê hương qua hình ảnh sông nước mênh mông, tâm hồn thi sĩ Mặc
Giang cũng như ánh trăng đêm hè tỏa mát lấp loáng lung linh trên dòng sông quê
hương, nơi mà thi nhân đã từng:
Đêm trăng tắm mát dòng sông
Áo phơi trước ngọn gió lồng
Cùng reo câu hò tiếng hát
Khuya về bỏ lại bến không
(Mặc Giang, xóm nhỏ làng quê)
Hình ảnh gắn bó với làng quê vào thuở ấu thơ này đã theo suốt cuộc đời thi nhân,
là một trong những hoài niệm đẹp nhất, trân quý nhất, bởi nó đã để lại trong
lòng thi nhân bao ngọt ngào; từ đó có thể dệt nên những trang thơ cuộc đời, tạo
nên bao ấm nồng của những chiều đông gió bấc căm căm. Hình ảnh với bao kỷ niệm
thân quen đậm màu tình quê, xanh ngắt màu xanh đồng lúa Việt Nam này khiến chúng
ta phải nhớ đến một hình ảnh tương tợ của thi sĩ Tế Hanh tả trong bài nhớ con
sông quê hương:
Tôi giơ tay ôm nước vào lòng
Vẫn trở về lưu luyến bên sông
Vâng, chính nỗi niềm yêu quê luôn vò võ thổn thức trong tâm hồn đầy nhiệt huyết,
nên hình bóng quê hương Việt Nam luôn là niềm thương nỗi nhớ trong lòng thi nhân,
cả hai hòa quyện đan chặt nhau như sông nhớ nguồn, như núi nhớ non, thân thiết
ấm nồng như con sông quê hương từng tắm mát cả đời thi nhân Mặc Giang, khiến ông
như giữ mãi mối tình ấy và luôn cảm thấy mới mẻ hấp dẫn, cuốn lôi.
Đến suốt cuộc đời, nó vẫn luôn là đầu nguồn đích thực, là hạ lưu vĩnh hằng để
thi nhân kí thác nỗi nhớ niềm thương, đong đầy kỉ niệm mỗi độ thu về mát lạnh,
đông đến gió rét căm căm, xuân tới rộn rã tiếng chim, hay hạ về với hương sen
ngào ngạt, để rồi cất lời hoan ca như khúc nhạc khải hoàn: “ta đi trên nước non
mình, ta về lưu lại bóng hình quê hương, ta đi một nhớ hai thương, ta về ta nhớ
vấn vương muôn đời. ” Đây chính là lời ca quê hương được dệt kết trên cung đàn
thương nhớ, vấn vương, không chia lìa, không xa cách ; là những bước chân chắc
nịch nện mạnh trên lòng sông vách núi; là những “dấu hài vạn thuở vẫn chưa pha”
trên lộ trình nâng niu và tiếp hướng về nguồn cội Việt Nam.
Có được hoa trái tình thương đối với quê hương qua bao vun bồi, dưỡng nuôi, chăm
bón như thế, do Người thơ Mặc Giang không những ý thức được tinh hoa nguồn cội
Việt Nam, mà trước những tàng tích đau thương đất nước qua bao thời cuộc, ông
còn luôn thống thiết như máu bồi trong tim, quặn thắt từng cơn như phải trăm
ngàn mũi kim, hay đếm từng giọt khô giữa khắc nghiệt đông về. Trong Ta còn Việt
Nam, sông núi hồn thiêng, Người thơ Mặc Giang nói:
Một nắm xương khô nghe lòng da diết,
Một giọt máu đào thấm nhuận non sông
Năm ngàn năm lịch sử, nhục vinh thành bại
Đã biết bao lần chất chồng xương núi máu sông
Như một sự đánh động tâm tư lãng quên của những ai nếu có, hay như một sự tài
bồi cho tâm lực hằng nhiên. Giang sơn gấm vóc chúng ta đã bồi đắp biết bao mồ
hôi xương máu của cha anh từ thuở dựng nước cho đến hôm nay, “là tinh hoa tiết
liệt qua nhiều thời đại”, chính là tất cả những gì đã kếttinh thành người con
Việt hôm nay. Bởi đó là sựï khơi động mạch nguồn giao cảm, sự vần vũ lại qua
giữa thượng nguồn và hạ lưu, khắn khít keo sơn như hồn sông núi, buộc ràng miên
viễn như hình với bóng, quyện hòa như sữa với nước giữa nhiều thế hệ chuyển tiếp
qua bao thời đại. Và chính vì vậy, dù trên vạn nẻo đường đời và mưa nguồn thác
lũ, thì Việt Nam trong tâm hồn thi nhân luôn là bài ca bi hùng, tự quyết:
Nhìn chữ “S” cong cong
Sao nghe đau vời vợi
Tôi từng nghe tiếng gọi
Dân tộc Việt yêu thương
Dù xa cách dặm trường
Tình quê hương chỉ một
(Mặc Giang, quê hương nguồn cội)
Càng tự hào khi nhìn giang sơn gấm vóc một cách sâu sắc bao nhiêu, thì càng nhức
nhối, đau vời vợi bấy nhiêu, đó đâu không phải là ý tưởng “nhìn quê hương anh
nghe nhiều cay đắng, nhìn cội nguồn tôi thấm những niềm đau ?”. Cũng vì qua chất
liệu quê hương ngọt ngào, qua những thành bại trôi dòng lịch sử mấy ngàn năm,
thi nhân Mặc Giang trăn trở thổn thức trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn hình
ảnh “Mẹ nằm đó, mặt lệ nhòa, không nói. Cha trầm ngâm trắng phếu bạc mái đầu.”
Niềm cay đắng của anh, nỗi đau thương của tôi, nhòa lệ trong im lặng của Mẹ và
dáng điệu trầm ngâm bạc đầu của Cha, đều là cùng trầm thống về quê hương, về con
người Việt Nam cùng chung máu đỏ da vàng, cùng đỡ đần qua vách chắn Trường Sơn,
cùng uống cạn nguồn mạch Thái Bình. Lời thơ như vượt trùng khơi bay xa giữa cõi
đời huyễn mộng, chính đã mở ra lộ trình tiến bước cho “tình ca muôn thuở của
người Việt Nam”, để cùng nhau đi xa hơn trên hành trình của nẻo về tình tự quê
hương.
Chừng ấy, đủ cho ai cũng thấy biết được ý thức hệ về tình Quê Hương, tình dân
tộc của Người thơ Mặc Giang. Nhà thơ đã mở ra cho chúng ta lối về quê hương
nguồn cội chỉ có một mà thôi, đó là lối về của yêu thương, yêu thương vô điều
kiện, không mang tính tạc thù ước lệ, không đòi hỏi yêu sách bất kì thứ gì. Chỉ
cần gặp nhau cho dù chưa từng quen biết, chúng ta cũng có thể ôm choàng lấy nhau
mà khóc, rồi cùng nhau ôn lại “dòng lịch sử còn rung thời tiết đọng. Thuở dựng
cờ, khai tổ quốc giang san”, rồi cùng khóc cười mà hát điệp khúc: “Tình quê ca
khúc nẻo đường. Em reo ca khúc quê hương muôn đời ”
Đây là nỗi niềm khiến Người thơ Mặc Giang thao thức trằn trọc bâng khuâng, 60
ngày đêm liền không ngủ. Xưa, khi mất bạn, Nguyễn Khuyến nói:“rượu ngon không có
bạn hiền. Không mua, không phải không tiền, không mua”. Nay, thi sĩ Mặc Giang có
lẽ vì trầm tư trước đà biến chuyển xa khơi của con đò quê hương, trước ánh nắng
vàng vọt hắt hiu yếu ớt vào một chiều lụi tàn dần tắt bình minh quê mẹ. Trong Kỉ
niệm 60 đêm không ngủ, Mặc Giang nói:
Hai ngọn đèn không cần phải châm dầu
Sáu mươi đêm cháy hoài không muốn tắt
Tôi nằm yên, nghe đến từng hơi thở
Tôi đăm chiêu, nghe mềm cõi tâm tư
Sáu mươi đêm không ngủ, mang nặng hình cây đa, gốc dừa, bến nước, am tranh của
quê hương; hai tháng trời thức trắng, mang nỗi niềm tình tự yêu thương, để rồi
trong thanh vắng đêm trường, thi nhân còn nhớ thương luôn tất cả người anh em
chị em. Ở đó như mở ra một thông điệp ngõ vào tình thương giữa con người Việt
Nam:“anh với tôi đâu phải người xa lạ, dù không quen cũng gợi cảm tình người ”.
Cho nên thi nhân đã từng đếm từng tiếng khuya rơi rụng, từng nghe mềm cõi tâm tư,
nhìn sâu vào bóng đêm trong thiết tha, đợi chờ, mong mỏi.
Từ đó, trong Mặc Giang, những dòng thơ tràn ngập triết lí sống và dạt dào tình
thương, đã thâm thiết mở ra cho đồng bào Việt Nam lối về tình tự muôn thuở trên
con đường “mọi nẻo hương quê, rung hồn lệ sử”. Con người Việt Nam nên phải “nâng
niu trau chuốt từng ngày”, phải biết:
Biển rộng sông dài gìn giữ điểm tô
Phải nên khuyên nhau:
Anh đi xây đắp nẻo đường
Tôi đi vá lại quê hương rã rời
(Mặc Giang, tình ca muôn thuở của người Việt Nam)
Những chuyển biến thời cuộc, những thay đổi do ý thức hệ trong mỗi thời đại, vô
tình đã biến quê hương không còn như xưa, khiến con người đôi khi cũng nổi trôi
theo thế vận, khiến nét mặt quê hương mang những dấu ấn phong sương thời gian,
là nét rã rời biến thể của đồng xanh, nét tàn phai trơ trọi của mùa lúa chín, là
âm vọng rời rạc chắp nối ứ nghẹn của điệp khúc tình tang trở về. Nên lời thơ của
thi nhân Mặc Giang như đang thủ thỉ bên tai chúng ta là hãy tận lực, hãy dốc tâm,
hãy hành động cho Việt Nam, cái nôi quê hương muôn thuở, nơi mang bao kỉ niệm
tình Mẹ, bao hoài cố nghĩa Cha.
Nhưng điểm tô, xây đắp trau chuốt bằng cách cách nào mới vẹn tình quê? Không gì
khác, đó là xây dựng, bồi đắp, bền vững hơn tình người, tình đồng bào, tình
huynh nghĩa đệ. Đây chính là lúc thi nhân muốn nói:
Dòng lịch sử, muôn đời, ta chung sống
Hồn quê hương, muôn thuở ta đắp xây
Tình anh em, mãi mãi, ta tiếp tay
Tình dân tộc, ngàn đời, không lay chuyển
(Mặc Giang, ta bước đi trên quê hương ta)
Có một lịch sử oai hùng, hồn quê hương ngọt ngào đường mía lau như thế, thì anh
em chị em phải gìn giữ, đắp xây, phải “tay trong tay, tình trong tình, máu trong
máu”, để tình dân tộc ngàn đời không biến chuyển đổi thay. Thế mới chính là đích
thực yêu quê hương, thương nòi giống Âu Lạc, trân quý nguồn cội Tiên Rồng.
Một nhạc sĩ nào đó viết về quê hương cũng khá cảm động “…quê hương, mỗi người
chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi, quê hương nếu ai không hiểu, sẽ không lớn nổi
thành người.” Không hiểu, tức không biết trân quý, không xây dựng tình thương ,
để “cho vạn vật nhân sinh hòa điệu sống.” Không lớn nổi thành người là thành
thân mà không thành danh, thành khí mà không thành chất, thành hư mà không thành
thực; không thực sự cưu mang tiếng hát ầu ơ của Mẹ, tiếng hát vượt băng vách
chắn thời gian; không thực sự mang hình hài cốt khí của Cha, hình hài càng sắc
nét, càng linh tri theo sóng nước lan tỏa không gian.
Để xây dựng tình yêu quê hương trọn vẹn trong hoàn thiện tình người, thì bước
đầu tiên, phải xác lập sự thân thiện, lòng cảm thông. Nên biết rằng, hiểu nhau
và thương nhau là nhu yếu khơi dòng của mạch sống, hôm qua hôm nay ngày mai, đầu
tiên sau cùng và mãi mãi. Nhạc sĩ vượt thời gian Trịnh Công Sơn có lời ca như là
một lời nhắn nhủ thâm thiết, là ý thức đầu nguồn không thể thiếu để thiết lập
dựng xây, vun vén tình người:
Mưa vẫn mưa bay cho đời biến động
Làm sao em biết bia đá không đau!
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau
Ngay sỏi đá, đâu phải vô tình, giữa chúng có mối tương quan mật thiết, chúng
cũng biết đau, cũng cần có tình thương, cần có nhau, thì con người, chúng ta
chắc ai cũng tự biết.
Thiết lập trọn vẹn tình huynh nghĩa đệ, tràn đầy ý thức cùng mang dòng máu cha
ông, là lúc chúng ta hội đủ tư cách của một đấng trượng phu với phong thái:
Ngước mặt ngẩng đầu sống dọc ngang
Cho hay con cháu giống da vàng…
(Mặc Giang, xin nguyện làm người nước Việt Nam)
Là chính thức xác định mình trong ý thức tình tự quê hương dân tộc. Ý thơ vừa
như một lời thệ nguyện kiên trinh, lại vừa như một lời khuyên chân tình của thức
giả, lời kêu gọi thân thiết của người bạn hiền, lời vỗ về tâm can của cha, lời
dặn dò như van lơn của mẹ. Vâng! phải cao thượng, phải khí tiết, nhìn lên không
thẹn với trời xanh, ngó xuống không hỗ với đất dày, như thế mới xứng danh con
cháu Tiên Rồng, mới đủ tư cách dự vào hàng ngũ hậu duệ của Văn Lang. Đã là con
cháuRồng Tiên, thì nên sống như thế; sống được như thế, mới đúng hợp với chất
liệu cốt cách Tiên Rồng.
Chính nhờ thế, nên một cách khẳng khái, quyết đoán, trong Xin nguyện làm người
nước Việt Nam, thi sĩ Mặc Giang đã tình tự nát cõi tâm can với non sông gấm lệ,
với Linh Hồn Tiên Tổ rằng:
Kiếp sau nếu được làm người nữa
Xin nguyện làm người nước Việt Nam
Như thế, nói với chính mình, nhưng chẳng khác nào tác giảnhư đang nói với đàn em
đó sao! Vì trong quê hương, là hơi thở của em, là nụ cười của thi nhân, như thi
nhân đã khẳng định: “em vẽ một vòng tròn, tôi vẽ một hình vuông, khép hai chữ
vuông tròn, thành quê hương muôn thuở”, đây là chất liệu và cũng là tiền đề để
dựng xây bồi tô cho Quê hương nguồn cội.
Có như thế, chúng ta mới càng thêm tự hào khẳng định sự tồn tại miên trường bất
diệt của quê hương, đó là sự thể hiện một cách hoành tráng, rung động như trống
chiêng, và cũng êm ái dịu dàng như khúc rẽ dòng sông:
Việt Nam tổ quốc quê hương tôi,
Thời thế thế thời dẫu đổi ngôi,
Lịch sử năm ngàn không biến đổi,
Truyền trao thế hệ mãi tô bồi
(Mặc Giang, Nguyện làm người nước Việt Nam)
Đó cũng chính là khúc hát của Việt Nam quê hương còn đó, với lời ca vang vượt cả
mây ngàn và gió núi bao la: “xưa nay trang sử lựa là, lật ra một cái còn ta với
mình, Việt Nam muôn thuở tồn sinh, quê hương muôn thuở như mình với ta”. Đó là
cách thể hiện hùng hồn nhất tấm lòng tri ân báo ân, biết cội biết nguồn, biết
trân trọng nâng niu dòng máu khai sinh, biết quý thương từng dải giang san đẫm
xương máu cha ông qua bao thời đại, và đó chính là sự thể hiện “Uống nước nhớ
nguồn cây nhớ cội”. Có thế mới làm cho “ngàn năm rạng rỡ giống Rồng Tiên”
Những chất liệu mặn mà của quê hương luôn thẩm sâu trong lòng thi nhân những
khúc tao đàn tuyệt diệu, như những tình tự khắn khít niềm tin yêu: “thương quê
từ bấy đến giờ, yêu quê từ độ bơ vơ khơi dòng”. Chính những chất liệu này càng
thêm nung nấu nóng chảy niềm nhớ thương của nhà thơ Mặc Giang. Trong Thầm Lặng,
thi nhân gởi trao niềm nhớ thương khôn nguôi:
Khóc mẹ ủ gầy tận cuối quê
Thương em èo uột khổ trăm bề
Đôi tay nương níu hồn sông núi
Ước vọng ngày nao bước trở về
Chỉ cần rung lên nỗi niềm tình tự, chỉ cần chùn xuống tận nẻo tâm tư, sẽ thấy
bụi tre hàng dậu nghiêng bóng thân quen, thưởng thức được hương vị thơm ngon của
trái bắp củ khoai vùi trong đống tro tàn, uống được từng ngụm nước sông ngọt
lành đựng trong chiếc gáo dừa bền chắc, đen điu, bóng láng. Chỉ có qua những đậm
đà hương vị thấm đượm tình quê ấy, chúng ta mới uống được luôn cả quốc hồn quốc
túy Việt Nam. Chúng sẽ nuôi dưỡng chúng ta lớn thêm lên nhiều lắm, mà sơn hào
hải vị năm châu làm sao sánh được!
Khúc hát tình tự về quê hương Việt Nam của Người thơ Mặc Giang mãi mãi như con
tàu tình cảm dân tộc, đưa hướng ta đi trên hành trình vô tận không bến bờ, không
sân ga, để tạo tựu chất liệu keo sơn, xây dựïng bồi tô cho non sông gấm vóc ba
Miền, vun vén cho nghĩa đệ huynh thêm bao la. Nên dù anh có đi muôn hướng, chị
có đến ngàn phương, thì chỉ có một chỗ duy nhất để trở về, và nẻo trở về Quê
Hương chỉ một con đường mà thôi, con đường hướng đến chân trời xanh ngát màu xứ
sở, hướng về buôn làng lúa trổ đòng đòng của đất mẹ dấu yêu. Quê hương mãi mãi
là điệp khúc hay nhất trong tất cả các điệp khúc mà tôi hát cho anh nghe, cho
chị nghe, và cho em nghe. Tình tự quê hương của thi sĩ Mặc Giang luôn rung động
trào dâng thân thiết nhất trong các tình tự. Trong đó, chúng ta càng có cơ hội
dệt thêm sắc màu của bếp lửa nhà tranh, để “ngọn lửa thêm hồng, Việt Nam trời
Đông, quê hương ta đó!!! ”. Nét đặc biệt trong tình tự quê hương của nhà thơ Mặc
Giang khiến ta bất chợt nhớ đến lời khẳng quyết: “một câu thơ, mà còn hơn triều
sóng ……một ý thơ, rung động cả thiên thu”, cũng vì chủ đề quê hương đất nước của
thi nhân đã mở ra cho hôm nay, cho cả mai sau lối về của ý, cõi đi về của tâm
thể trên dòng đời miên viễn, xuyên suốt vô tận thời gian, bạt ngàn vô hạn không
gian.
Gió đồng nội chiều nay mát lắm, khúc mía lau như càng thêm lịm ngọt, chuyến đò
ngang vẫn lững lờ đợi khách sang sông, từng cánh én đang tung mình trên nền trời
quê hương xanh thẳm, những em bé mục đồng đang lùa trâu về trong ráng hồng yếu
ớt… Đâu đó trong gió thoảng lưng đồi, là tiếng chày giã gạo liên hồi, tiếng ru
hời của mẹ yêu như đang lâng lâng lan tỏa trên sông dài biển rộng mênh mông,
ngút ngàn giữa núi thẳm rừng xanh bao la của con người Việt Nam. Cả thi nhân, cả
chúng ta như đangtừng bước châïp choạng của bóng đêm để tìm về mái tranh ấm hồng
bếp lửa, ngồi bên Mẹ dấu yêu, ngồi bên Cha trầm lắng, anh chị em cùng hát và kể
cho nhau nghe về điệp khúc của tình Quê Hương muôn thuở. Chắc rằng, câu chuyện
sẽ cuốn hút, chìm sâu, lắng đọng tâm tư để nghe, nghe cho đến khi, ô kìa, trời
Đông đã quá ửng hồng!!!
Một ngày cuối Thu Bính Tuất
QUỐC ANH
|